Những điều cấm kỵ trong cuộc tranh luận

KHÔNG NÊN:

Nếu bạn nghiên cứu những nền văn hóa khác thì bạn có thể nhận ra tính muôn màu muôn vẻ trong các phong tục tập quán của loài người. Nếu bạn đã hiểu sự đa dạng trong các tập quán xã hội thì bạn sẽ hoài nghi về phong tục của chính bạn. Nếu bạn không biết chắc về những gì bạn đang làm thì bạn sẽ trở nên khoan dung hơn. Do đó, nếu bạn mở rộng kiến thức của mình trong lĩnh vực nhân chủng học thì nhiều khả năng bạn sẽ chấp nhận người khác và tập quán khác mà không phê phán gì.

NÊN:

Nếu bạn nghiên cứu những nền văn hóa khác thì bạn có thể nhận ra tính muôn màu muôn vẻ trong các phong tục tập quán của loài người. Nếu bạn đã nhận ra tính muôn màu muôn vẻ trong các phong tục tập quán của loài người thì bạn sẽ đặt câu hỏi về phong tục của chính bạn. Nếu bạn đặt câu hỏi về phong tục của chính bạn, bạn sẽ trở nên khoan dung hơn. Do đó, nếu bạn nghiên cứu những nền văn hóa khác thì bạn sẽ trở nên khoan dung hơn.

• >>>>>Xem thêm: “Intro logo lamphim.vn NAM01

Hãy lưu ý trong cả hai phiên bản, mỗi câu đều có dạng “Nếu X, thì Y.” Nhưng giờ đây hãy nhìn vào những điểm khác nhau.

Phiên bản thứ hai (“Nên”) rất rõ ràng – bởi vì vế Y của mỗi tiền đề chính là vế X của tiền đề tiếp theo. Vế Y của tiền đề đầu tiên chính là X của tiền đề thứ hai, vế Y của tiền đề thứ hai chính là X của tiền đề thứ ba, và cứ như vậy. (Quay trở lại và nhìn xem!) Đó là lý do vì sao lập luận này rất dễ đọc và dễ hiểu: nó tạo thành một dạng xâu chuỗi.

Trong phiên bản đầu tiên (“Không nên”) dù rằng vế Y của tiền đề đầu tiên chỉ phỏng chừng là vế X của tiền đề thứ hai, vế Y của tiền đề thứ hai chỉ phỏng chừng là vế X của tiền đề thứ ba và cứ như vậy.

Ở đây từng vế X và Y được viết như thể tác giả luôn tham khảo từ điển đồng nghĩa mỗi khi có cơ hội. Thí dụ cụm “Khoan dung hơn” ở tiền đề thứ ba được viết thành “nhiều khả năng chấp nhận người khác và tập quán hơn” trong câu kết. Kết quả là, lập luận này đã mất đi mối liên hệ hiển nhiên giữa các phần khiến nó trở nên ít rõ ràng và thuyết phục hơn. Người viết thì có dịp thể hiện bản thân còn người đọc – những người không biết trước được cấu trúc của lập luận ngay từ đầu – chỉ trở nên lúng túng.

7. Sử dụng một nghĩa duy nhất cho mỗi thuật ngữ

Một vài lập luận chuyển nghĩa của thuật ngữ này sang thuật ngữ khác để giành chiến thắng. Đây là ví dụ kinh điển về lối nói lập lờ:

Phụ nữ và nam giới khác nhau về thể chất và cảm xúc. Hai giới tính này không “bình đẳng” và do đó luật pháp không nên ngụy tạo rằng chúng ta bình đẳng!

Lập luận này ban đầu trông có vẻ hợp lý nhưng có sự khác biệt giữa nghĩa của hai thuật ngữ “bình đẳng” trong tiền đề và kết luận. Đúng là hai giới tính này không “bình đẳng” về thể chất và cảm xúc theo nghĩa “bình đẳng” ở đây chỉ đơn giản là “giống nhau”. Tuy nhiên thuật ngữ “bình đẳng” trước pháp luật không có nghĩa là “giống nhau về thể chất và cảm xúc” mà là “có quyền và cơ hội như nhau.” Nếu được sắp xếp lại với hai nghĩa khác nhau của từ “bình đẳng” để làm rõ hơn, lập luận đó sẽ như sau:

Phụ nữ và nam giới không giống nhau về thể chất và cảm xúc. Do đó, phụ nữ và nam giới không có quyền và cơ hội như nhau.

Phiên bản này của lập luận đã không còn lập lờ bằng từ “bình đẳng” nữa nhưng vẫn không phải là một lập luận vững chắc; nó chỉ là một lập luận nguyên bản không thỏa đáng mà giờ đây tính không thỏa đáng đã bị lật tẩy. Một khi lối nói lập lờ bị xóa bỏ, kết luận của lập luận trên không được hỗ trợ mà cũng không liên quan gì đến tiền đề. Không có lý do nào cho thấy những khác biệt về thể chất và tình cảm có liên quan gì đến quyền và cơ hội.

Đôi khi, chúng ta cố gắng nói lập lờ bằng cách biến một từ chính yếu trở nên mơ hồ. Hãy theo dõi cuộc hội thoại sau đây:

A: Tất cả mọi người đều ích kỷ!

B: Nhưng còn John thì sao? Hãy nhìn cách anh ấy cống hiến bản thân cho con mình kìa!

A: Anh ấy chỉ làm những gì anh ấy thực sự muốn làm – đó vẫn là ích kỷ!

Ở đây nghĩa của từ “ích kỷ” thay đổi từ phát biểu đầu tiên sang phát biểu thứ hai của A. Trong phát

biểu đầu tiên, chúng ta hiểu “ích kỷ” mang nghĩa cụ thể: tham lam, hành vi tự cho mình là trung tâm, theo định nghĩ thông thường của “ích kỷ”. Trong câu trả lời của A trước sự phản đối của B, A đã mở rộng ý nghĩa của từ “ích kỷ” bao hàm cả hành vi dường như không ích kỷ bằng cách mở rộng định nghĩa của từ này gồm cả phạm trù “làm những gì bạn thực sự muốn làm.” A chỉ bảo vệ và giữ lại được từ “ích kỷ”; chứ không giữ được ý nghĩa ban đầu của từ.

Một cách hay để tránh lối nói lập lờ là định nghĩa cẩn thận những thuật ngữ chủ chốt khi bạn giới thiệu chúng. Sau đó, hãy chắc rằng bạn chỉ sử dụng chúng theo nghĩa bạn đã định ra từ trước! Bạn có thể cũng cần định nghĩa những thuật ngữ đặc biệt hoặc những từ ngữ kỹ thuật. Hãy xem phần Phụ lục để tham khảo các thảo luận về quá trình và những cạm bẫy trong định nghĩa.

2. Lập luận bằng ví dụ

11. Cân nhắc các phản ví dụ

Hãy kiểm tra các lập luận quy nạp bằng cách đặt câu hỏi liệu đây có phải là những phản ví dụ hay không.

• >>>>>Xem thêm: chụp ảnh gia đình hà nội

Chiến tranh Peloponnesus bắt nguồn từ tham vọng thống trị Hy Lạp của người Athen.

Chiến tranh Napoleon bắt nguồn từ tham vọng thống trị châu Âu của Napoleon.

Chiến tranh thế giới thứ II bắt nguồn từ tham vọng thống trị châu Âu của những người theo chủ nghĩa Phát xít.

Do đó, nhìn chung, chiến tranh bắt nguồn từ tham vọng thống trị lãnh thổ.

Tuy nhiên, có phải tất cả mọi cuộc chiến đều bắt nguồn từ tham vọng thống trị lãnh thổ? Hay có thể lập luận quy nạp này đã đi quá xa những ví dụ mà nó nêu ra?

Trên thực tế, có những phản ví dụ. Thí dụ các cuộc cách mạng có những nguyên nhân rất khác nhau.

Nội chiến cũng vậy.

Nếu bạn có thể nghĩ tới các phản ví dụ chống lại lập luận quy nạp mà bạn đang bảo vệ, hãy điều chỉnh lập luận của bạn. Chẳng hạn, nếu những lập luận trên là của bạn, bạn có thể đổi câu kết thành “những cuộc chiến giữa các chính quyền độc lập bắt nguồn từ tham vọng thống trị lãnh thổ.” Thậm chí kết luận này cũng còn quá tổng quát nhưng chí ít còn dễ bảo vệ hơn kết luận trước đó.

Trong những trường hợp khác, bạn có thể tranh luận với phản ví dụ giả định. Vài người có thể phản đối rằng Chiến tranh Thế giới thứ I có thể không bắt nguồn từ tham vọng thống trị lãnh thổ mà từ hệ thống hiệp ước phòng thủ chung và những mưu đồ chính trị khác, xuất phát từ sự nổi dậy của giới thượng lưu châu Âu, hoặc cuộc nổi dậy của những người theo chủ nghĩa dân tộc ở Đông Âu, hoặc những cuộc nổi dậy khác được ghi nhận trong lịch sử. Tất nhiên, kết quả tiếp theo sau ví dụ này là, bạn có thể phải hoàn toàn từ bỏ ý kiến của mình hoặc có thể tiếp tục nhưng lúc này lập luận của bạn đã không còn chắc chắn. Tuy nhiên, vẫn có thể có câu trả lời khác: những phản ví dụ giả định đó thực sự vẫn phù hợp với lập luận quy nạp của bạn. Bạn có thể lập luận rằng rốt cuộc tham vọng của các thế lực châu Âu muốn thống trị châu lục này là động cơ của hệ thống hiệp ước phòng thủ chung và những

mưu đồ khác chính là cái đã khơi mào cuộc chiến. Và không phải cuộc nổi dậy của những người theo chủ nghĩa dân tộc bắt nguồn từ ách thống trị bất công lúc bấy giờ đó sao? Ở đây, thực tế là bạn đang cố diễn dịch lại phản ví dụ thành một ví dụ khác. Sự thách thức ban đầu với kết luận của bạn trở thành một bằng chứng khác hỗ trợ cho kết luận này. Bạn có thể thay đổi hoặc không thay đổi cách diễn đạt kết luận của mình: Trong bất kỳ tình huống nào, bây giờ bạn đã hiểu rõ hơn về kết luận của mình và bạn đã được trang bị để đối phó với những phản bác về sau.

Cũng nên nghĩ tới những phản ví dụ khi bạn đang đánh giá lập luận của người khác. Hãy đặt câu hỏi rằng liệu kết luận của họ có cần phải điều chỉnh hay giới hạn lại hay không, liệu có khi nào những kết luận đó bị bác bỏ hoàn toàn hay không, hay liệu một ví dụ đối lập giả định nào đó có thể được diễn dịch lại như một ví dụ hỗ trợ khác. Những nguyên tắc này áp dụng cho bất kỳ lập luận nào của người khác cũng như áp dụng cho chính bạn. Khác biệt duy nhất là bạn có cơ hội điều chỉnh lập luận quy nạp quá mức của mình.

• >>>>>Xem thêm: chup anh chan dung